Thống kê truy cập

Số lượt truy cập: 2.024.334
Tổng số Thành viên: 51
Số người đang xem:  6

Những ngày cuối của Mahà Moggallàna

Đăng ngày: 04/05/2014 01:20
.

Sáu tháng trước khi Phật nhập Niết Bàn, sự tịch diệt đã tách rời lần cuối cùng đôi bạn Thánh Nhân Sàrìputta (Xá Lợi Phất) và Mahà Moggallàna (Đại Mục Kiên Liên). Sàrìputta nhắm mắt vào ngày trăng tròn tháng Kattika (vào khoảng giữa 2 tháng 10 và 11 Dương lịch).

Sàrìputta viên tịch ngay nơi ông đã chào đời, và trong nhà của cha mẹ ông, rất xa người bạn cao thượng Mahà Moggallàna. Phải chăng hai vị Thánh Tăng ấy đã đắc quả A La Hán tại hai nơi khác nhau, nên họ cũng viên tịch ở hai điạ điểm khác nhau, mặc dù họ đã từng trải qua bao nhiêu kiếp không thể tách rời được?

Và chẳng bao lâu, sau khi Sàriputta viên tịch, “Ma vương” (Màrà), hiện thân của tội lỗi và thần chết, đã tìm cách hãm hại Mahà Moggallàna bằng cách xâm nhập vào bên trong thân thể của vị Thánh Tăng này.

“Ma Vương” phá phách khắp ngũ tạng lục phủ, nhưng không thể nào gia hại nổi Ðại Đức Mahà Moggallàna, vì thiền lực của Ngài vẫn hội tụ trên đỉnh đầu, còn “Ma Vương” thì không dám lên gần trên đó.

Tuy nhiên Mahà Moggallàna vẫn hiền từ bảo “Ma Vương” rằng: "Này Màra! Ngươi mau ra khỏi thân ta. Tuy tâm hồn ta hoàn toàn thanh tịnh, không bao giờ có tà niệm gia hại chúng sinh, nhưng ác nghiệp mà ngươi đang làm, sẽ khiến cho thần thông ta tự động phát tác, thì hậu quả tất đưa ngươi vào địa ngục!".

“Ma Vương” nghe thế kinh hãi vô cùng, liền biến thành một vật rất nhỏ, ẩn núp trong ruột già của Ðại Đức Mahà Moggallàna. Y nghĩ rằng: "Ngay cả đức Phật cũng chưa chắc chắn tìm ra ta!"

Chợt “Ma Vương” nghe Mahà Moggallàna nói: "Này Màra! Luân Xa Thần (Chakra) trong thân ta không có chỗ nào là không thể chiếu tới, vậy ngươi mau ăn năn kẻo ác nghiệp thêm dày!".

“Ma Vương” bây giờ rất đỗi kinh ngạc, nhưng còn hy vọng là Mahà Moggallàna chỉ dọa, hay nói mò, chứ không biết xác thực hiện y ẩn núp chỗ nào. Nhất thời “Ma Vương” yên lặng.

Nhưng “Ma Vương” lại nghe Thánh Tăng nói tiếp: "Này Màra, ngươi đang trốn ở khoảng giữa ruột già của ta. Chớ lầm lẫn cho là ta không biết!"

Bây giờ “Ma Vương” không còn cách nào làm khác được. Y liền nương theo ngõ miệng của Mahà Moggallàna mà thoát ra ngoài, và hiện nguyên hình, đứng đối diện với vị Thánh Tăng này.

Mahà Moggallàna liền báo cho Ma Vương biết rằng: Hôm nay là lần đầu tiên “Ma Vương” đối diện với ông, nhưng ông đã biết rõ gốc tích bao nhiêu ngàn đơì nghiệp quả trước của “Ma Vương”. Ngay cả con cháu, ma binh, giòng dõi hắn, có bao nhiêu Ngài cũng biết nốt.

Rồi Mahà Moggallàna dùng ba Pháp Thần Trụ là Thiên Nhãn Thông, Tha Tâm Thông, và Túc Mạng Thông, kể hết lai lịch “Ma Vương”, để khuất phục y, bằng “phép biến hóa những chuyện cũ” một cách rất chi tiết.

Sự xử dụng thần thông (phối hợp) này về sau được ghi lại trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ), số 50 với tựa đề là: "Mahà Moggallàna đã “Làm ra khung cảnh theo tự thuật về tiền kiếp".

Sau đây là các điểm chính những gì vị Thánh Tăng này kể :

"Thuở Phật quá khứ tên là Kakusandha, xuất hiện vào một đại kiếp trái đất (Bhaddakappa), đem diễm phúc đến cho tam gới chúng sanh, với 5 vị Phật khác. Ngài đã sống bằng tuổi thọ trung bình của con người, là bốn trăm ngàn năm. Và khi sự tăm tối đầu tiên trong cái tuổi thọ vàng son ấy bắt đầu che áng, bởi vua chúa thiếu đức tánh tu thân, nên bỏ mất thiện tâm. Rồi lòng tranh giành ích kỷ bắt đầu xuất hiện. Do sự suy đồi đó, sức sống và tuổi thọ của loài người, bị giảm xuống còn một nửa"

Khi ấy, Mahà Moggallàna chính là “Màrà” (Ma vương), hoành hành các cõi dục giới và thế gian, với cái tên là Dùsimàra. “Ma Vương” ấy có một "ma chị" tên là Kàli, sinh được một con trai, sau này trở thành “Ma Vương”, đóng vai thần chết vào thời kỳ đức Phật Thích Ca.

Như vậy “Ma Vương” đang đứng trước mặt kia không ai khác hơn là hàng con cháu của tiền thân Mahà Moggallàna, từ một đại kiếp xa xôi quá khứ.

Vì khi làm “Ma Vương” trong thuở xa xôi ấy, tiền thân Mahà Moggallàna đã si mê, tấn công một vị đại đệ tử Phật quá khứ, bằng cách hiện thành một đứa bé, lấy những mảnh chén bể, liệng vào đầu của vị đại đệ tử Phật kia, cho đến khi đổ máu.

Khi đức Phật Kakusandha thấy vậy bèn khuyên rằng: -“Ma Vương”! Sao ngươi ác độc thế, nên biết hồi tâm, kẻo sa đọa. Ngay cả quỉ Sa Tăng cũng có lúc hối lỗi !

Phật nói dứt, và chỉ trong nháy mắt, toàn thân “Ma Vương” Dùsimàra liền hư hoại, tiêu tan ra khói, và y bị đọa vào trong địa ngục sâu nhất.

Hiển nhiên, trước đó chẳng bao lâu, “Ma Vương” là "Vua" của các cảnh địa ngục, thì bây giờ chính y là "nạn nhân" của địa ngục. Lúc trước “Ma Vương” là bàn tay hành hạ tội phạm, bây giờ chính y phải chịu tất cả những gia hình tương tự. Ðó là pháp hành (Sankhàra), nhân quả đổi thay, trong cái “Càn Khôn Sinh Tử Đồ” bao trùm tam giới. (Saŋsàra).

Trải qua không biết bao nhiêu ngàn năm, tiền thân Mahà Moggallàna phải chịu nhiều đau khổ trong cảnh địa ngục, để trả quả ngu muội, nông nỗi, xúc phạm đến một vị Thánh Nhân. Mười ngàn năm khác, tiền thân của Mahà Moggallàna còn chịu cấm cố trong một địa ngục mang mình người đầu cá, giống như họa sĩ Pieter Breughel, đã vẽ những sinh vật trên một bức tường nói về địa ngục vậy.

Ở đó, cứ mỗi khi "phạm ma" bị hai ngọn giáo trừng phạt đâm xuyên qua trái tim, thì y sẽ biết rằng thời gian trên dương thế đã trải qua hai ngàn năm. (Theo Majjhima Nikàya =Trung Bộ kinh số 50 ).

Bây giờ thấy lại “Ma Vương” (Màra), Mahà Moggallàna chợt nhớ đến những hãi hùng trong vòng luân hồi quá khứ (Saŋsàra), mà hiện tại ông được hoàn toàn giải thoát, nên tâm hồn ông trở nên thanh tịnh, Phổ Lực Công tự động phát tác, làm rung chuyển mặt đất, khiến “Ma Vương” hoảng sợ chạy mất.

Sau khi “Ma Vương” đi rồi, Mahà Moggallàna tự nhủ :

"Ðây là kiếp chót của ta! Sự sinh tử chắc chắn sẽ chấm dứt. Là một Thánh Nhân, ta không thấy có lý do nào để ham mê một kiếp sống giả tạo. Ta còn sống là bởi vì thân thể ta chưa đến lúc tiêu hoại. Tuy trong mình ta có thần thông, ta thừa sức sử dụng phép lạ, để sống lâu bằng một kiếp trái đất, nhưng ta làm vậy ích lợi gì? Ta nên để cho "Quỷ Vô Thường" biểu dương bản chất tự nhiên của nó!".

Như nhiều nhà hiền triết vĩ đại khác ở phương Ðông (Á Châu) và cũng như chư Thánh Tăng thời đức Phật, Mahà Moggallàna đã lưu lại hậu thế một loạt tự thuật, dưới hình thức kệ ngôn, gọi là Theragàthà (Tôn Túc Kệ). Trong đó, ông đã tóm lược những pháp, chính ông tu tập để được giải thoát, và xuyên qua bao nhiêu tiền kiếp cho chí đời sống sau cùng, ông vẫn giữ đúng hạnh nguyện không lo âu, không thối chuyển.

Biết bao hạnh phúc kỳ diệu, trong quả vị giải thoát, và các thần thông thượng thừa, đã làm cho những kẻ khác tràn ngập phỉ lạc, mắc dính trong những "hạnh phúc thần tiên", nhưng đối với Mahà Moggallàna, ông vẫn thản nhiên như một ngọn núi phủ đầy hoa! (Ý nói ngọn núi không bao giờ biết hãnh diện trước sự vững chắc và vẻ đẹp của mình).

Những kệ ngôn của ông trong Theragàthà có thể tóm tắt bằng một câu đại ý như sau:

"Không còn cái vòng sinh tử luân hồi nào (Samsàra) trong tam giới, mà bần Tăng chưa khám phá. Cũng không còn một quyền lực vô minh nào, có thể che áng được Thánh Tuệ của bần Tăng. Khổ não từ nay sẽ không còn gia hại bần Tăng nữa, vì bần Tăng đang sống trong một phẩm cách thanh tịnh, vượt khỏi tất cả sự đau đớn và bất an của kiếp luân hồi!".

Khởi đầu Theragàthà, kệ ngôn nói: "Ở đâu và khi nào những kẻ khác tham lam, ích kỷ, thì Mahà Moggallàna giữ cuộc đời ẩn dật, hài lòng với lối sống thanh đạm và giảm thiểu thèm muốn. (Theragàthà, các câu từ 1446 đến 1449).

Thuở nọ, có một cô gái làng chơi xinh đẹp tìm cách dụ dỗ, Mahà Moggallàna liền dứt khoát từ chối. Ông từ chối như đức Phật đã từ chối sự quyến rũ của những nàng con gái Ma Vương. (Theo Theragàthà, các câu từ 1150 đến 1157).

Khi Sàrìputta, người bạn cao thượng nhất của ông viên tịch, ông không bị khích động, hay bị đau buồn một cách thống thiết như Ananda (lúc ấy chưa đắc quả A La Hán.

Ngược lại Mahà Moggallàna đã nhận tin bạn mình qua đời, một cách nghiêm trang và thanh tịnh. (Theragàthà, các câu từ 1158 đến 1163).

Tiếp theo, Theragàthà (Tôn Túc kệ ngôn) chuyển sang những câu nói về bản lĩnh siêu phàm của Mahà Moggallàna. Chẳng hạn như chuyện ông đã làm lung lay nhiều tòa nhà của một tu viện, bằng ngón chân (câu 1164), chuyện ông nhập định một cách vô ngại trong khe núi giữa cơn mưa gió sấm sét (câu 1167). Rồi tư cách ẩn tu một cách bình thản, ở những nơi xa xôi hẻo lánh, ông quả thật xứng đáng làm người thừa tự đức Phật, và đáng cho các hàng Phạm Thiên lễ bái cúng dường (câu 1169).

Riêng những câu “Tôn Túc Kệ Ngôn” (Theragàthà) từ 1169 đến 1173, là những câu Mahà Moggallàna khuyên nhủ một người Bà La Môn dị đoan và tà kiến, khi người ấy thấy ông ôn hoà cảnh cáo một lão Bà La Môn khác, về những ác ý và các hành động xấu xa, khuyên lão ấy nên kính trọng các bậc Thánh Nhân phạm hạnh!

Nhưng câu kệ số 1176 thì Mahà Moggallàna (Đại Mục Kiền Liên) dùng tán dương Sarìputta (Xa Lợi Phất).

Còn các kệ ngôn số 1177 đến 1181, đối lại là những lời của chính Ttrưởng Lão Sàrìputta (Xa Lợi Phất) ca ngợi Ðại đức Mahà Moggallàna (Mục Kiền Liên).

Tiếp theo là những câu từ 1182 đến 1186, Mahà Moggallàna dùng để tự kiểm soát lại phép tu chứng, và đạt được quả vị giải thoát của mình, như bổn phận trên hết, mà ông đã hoàn tất.

Cuối cùng, các kệ ngôn từ 1187 đến 1208 là những kệ ngôn, thuật lại Mahà Moggallàna cảm thắng “Ma Vương” như thế nào, tương tự như bản kinh có tựa "Ðối Diện Thần Chết" tìm thấy trong Majjhima Nikàya (Trung Bộ Kinh) số 50 đã nói trên đây vậy.

(Lời phụ giải của Dịch giả: - "Ma Vương" trong ngôn ngữ Phật giáo thường được dùng với hai hàm ý: Hàm ý thứ nhất ám chỉ “tử tính” trong nhục thân con người, nghĩa là khi nào có một thân thể sinh hoạt là khi ấy có sự có mặt của"tử tính"(Ma Vương). Hành động dù bằng thân, khẩu, hay bằng ý, không gì khác hơn là tạo một chu kỳ sinh diệt, trong đó sự "tiêu thụ năng lượng" của các tế bào phải diễn ra, và “tử tính”(tức các tế bào cũ phải diệt) đương nhiên phát hiện. Hàm ý thứ hai "Ma Vương” tức là một loại chúng sanh khác với loài người, y cai quản những cảnh vô hình đày đọa, nhưng thường lui tới trong cõi người, mà mắt phàm ít ai có thể trông thấy được).




| Chia sẻ |
THẢO LUẬN  
Chưa có thảo luận nào

Tin cùng loại cũ hơn